Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

GIỚI THIỆU VỀ BÌNH PHÚ

BÌNH PHÚ – MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC TRƯỚC NĂM 1930

      I. VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI BÌNH PHÚ
     1. Đặc điểm tự nhiên
    Bình Phú là xã nằm về phía Tây huyện Thăng Bình, cách thị trấn Hà Lam khoảng 16 km. Diện tích khoảng 2.818,86ha; phía Đông giáp 2 xã Bình Quế và Bình Chánh; phía Tây giáp xã Bình Định Nam; phía Bắc giáp xã Bình Quý; phía Nam giáp xã Tiên Sơn (Tiên Phước) và xã Tam Lộc (Phú Ninh). Bình Phú hiện nay có 5 thôn, dân số toàn xã tính đến năm 2017 là 4.234 người, mật độ dân số 578 người/km2.

     Bình Phú thuộc vùng trung du, phần lớn đất đai là đồi gò, rừng núi, khô cằn, bạc màu.

     Trước đây, Bình Phú nối liền các xã của huyện và vùng lân cận với hệ thống giao thông ít thuận tiện. Phần lớn là đường đất đi qua đồi gò, đồng ruộng. Vào mùa mưa thường lầy lội, gây khó khăn cho việc đi lại của nhân dân trong vùng. Điều này làm cho Bình Phú trải qua các thời kỳ ít có điều kiện để giao lưu với các vùng xung quanh. Đến năm 2010, hệ thống giao thông liên thôn, liên vùng đã được thảm bê tông, tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho việc phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo an ninh-quốc phòng ở địa phương.

     Về khí hậu, trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường có mưa to gây nên hiện tượng sạt lở, ngập úng cục bộ. Mùa khô thường có nắng nóng làm cho đất đai khô cằn.

     Do đặc điểm địa hình, đất đai, khí hậu không thuận lợi nên Bình Phú ít có điều kiện để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp.

Quang cảnh Trung tâm Hành chính xã Bình Phú

     2. Địa lý hành chính và dân cư
     Trước đây, Bình Phú có địa bàn rộng hơn ngày nay rất nhiều và tên gọi của xã cũng đã nhiều lần thay đổi.

     Trong thời kỳ phong kiến rồi thuộc địa nửa phong kiến, Bình Phú gồm có 17 xã: Đồng Linh, Châu Thọ, Phước Cang, Phước Hà, Đức An, An Xá, Châu Long, An Hiệp, An Lý, An Trường, Gia Hội, Thanh Hòa (Đại Trị), Ngũ Xã, Bình Xuân, Châu Chánh, Thành An, Phú Long.

     Sau cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (06/ 01/1946), 17 xã sát nhập lại còn 5 xã, gồm:
      + Xã Liên Sơn có các làng: Đồng Linh, Châu Thọ, Phước Cang.

     + Xã Nam Long có các làng: Phước Hà, Đức An.

     + Xã Đông Long có các làng: An Xá, Châu Long, An Hiệp.

     + Xã Tây Long có các làng: An Lý, An Trường, Gia Hội, Thanh Hòa (Đại Trị)

     + Xã Bắc Long có các làng: Ngũ Xã, Bình Xuân, Châu Chánh, Thành An, Phú Long.

     Đến năm 1948, 5 xã trên sát nhập lại thành 2 xã là Thăng Thành (gồm Liên Sơn, Nam Long, Đông Long) và Thăng Tân (gồm Tây Long, Bắc Long).

     Đến cuối năm 1949 đầu năm 1950, hai xã Thăng Thành và Thăng Tân (thuộc Bình Phú) và xã Thăng Thái (gồm Tây Hòa, Đông Hòa, Sơn Tây, Bình Phụng, Phụng Loan thuộc Bình Quế và Tú Trà, Trà Sơn thuộc Bình Tú) nhập lại thành xã Thăng Lãnh.

     Tên xã Thăng Lãnh tồn tại cho đến năm 1956, sau đó được đổi thành Bình Phú gồm các thôn: Linh Cang (gồm Đồng Linh và Phước Cang), Lý Trường (gồm An Trường và An Lý), Long Hội Hiệp (gồm Châu Long, Gia Hội, An Hiệp), Ngũ Xã, Phước Hà, Đức An. Các thôn còn lại thuộc Bình Tú và Bình Quế.

     Cuối năm 1983, theo Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, Ngũ Xã và một phần thôn Long Hội Hiệp được tách ra khỏi Bình Phú, thôn Tú Trà được tách khỏi Bình Tú để thành lập xã Bình Chánh. Bình Phú còn lại 5 thôn: Linh Cang, Lý Trường, Long Hội, Phước Hà, Đức An.

     II. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC TRƯỚC NĂM 1930
     1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
     a. Về kinh tế
     Ngành kinh tế nông nghiệp, với diện tích tự nhiên khoảng 2.665 ha nhưng phần lớn là đồi gò, rừng núi nên ngày nay Bình Phú chỉ có khoảng hơn 500 ha đất canh tác. Vì thế, dưới thời thuộc địa nửa phong kiến, khi mà lực lượng lao động còn ít, công cụ lao động còn thô sơ thì diện tích đất canh tác còn ít hơn nhiều. Đời sống của nhân dân dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó chủ yếu là trồng cây lương thực. Trong thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến, với các chính sách bóc lột tàn bạo của thực dân phong kiến, đời sống của đại đa số nhân dân rất khổ cực.

     Đất đai canh tác ít, phân bố xen kẽ giữa đồi gò, rừng núi. Mùa nắng thường thiếu nước, mùa mưa thường bị ngập úng. Vì thế, sản xuất nông nghiệp hầu như độc canh, phần lớn đất đai chỉ canh tác một vụ trong năm, sản lượng rất thấp (trung bình từ 10 - 15 ang lúa/1 sào).

     Bên cạnh đó, trong thời kỳ này, bọn địa chủ đã chiếm đoạt phần lớn đất đai sản xuất. Có những địa chủ bao chiếm đến vài trăm mẫu ruộng như Chánh Đốc (Phước Cang), Thất Sáu (Bình Quế), bà Tư (Đức An). Bọn địa chủ câu kết với bọn kỳ hào ra sức cướp đoạt ruộng đất, bóc lột nông dân đến cùng kiệt. Hầu hết nông dân trong xã phải đi làm thuê, làm tá điền cho địa chủ để sống qua ngày.

     Nhìn chung thời kỳ này sản xuất nông nghiệp ít phát triển, đời sống của người dân, đặc biệt là nông dân vô cùng khổ cực.

     Các ngành nghề khác cũng được hình thành sớm trong thời phong kiến. Với đặc điểm của kiểu sản xuất mang nặng tính tự cung, tự cấp nên người dân Bình Phú ngoài thời gian lao động đồng áng còn tranh thủ làm thêm các nghề phụ phục vụ cho đời sống hằng ngày. Những gia đình kề chân núi, bìa rừng thì làm nghề đốn củi, đốt than; một số gia đình sống dọc các bãi đất bồi thì trồng bông dệt vải, trồng dâu nuôi tằm; một số gia đình làm nghề đan lát.

     Nhìn chung, các ngành nghề này dưới thời phong kiến theo quy mô gia đình, ít phát triển, chưa tạo ra nhiều sản phẩm để trao đổi. Tuy nhiên cũng có một số ngành nghề được mở rộng quy mô sản xuất, dần dần trở thành những nghề truyền thống và được duy trì trong một thời gian khá dài như trồng bông dệt vải ở Phước Cang, Đồng Linh.

     Trong lĩnh vực thương nghiệp, do địa hình trung du đi lại khó khăn nên việc buôn bán, trao đổi chỉ diễn ra trong địa bàn xã. Sau ngày giải phóng, đặc biệt là năm 1993 khi chợ Hà Châu hình thành và đi vào hoạt động thì việc trao đổi, buôn bán được mở rộng ra các địa phương khác như Bình Quý, Bình Định Nam, Bình Chánh.

     b. Về văn hóa - xã hội
     Cũng như các địa phương khác trong cả tỉnh, cả nước, dưới thời thực dân phong kiến, nhân dân Bình Phú chịu sự thống trị của thực dân Pháp và bọn tay sai phong kiến Nam triều.

     Trên địa bàn các xã nhỏ thuộc Bình Phú, chính quyền thực dân phong kiến đã thiết lập một bộ máy thống trị gồm: Lý trưởng, phó lý và ngũ hương (hương bổn, hương bộ, hương kiểm, hương dịch, hương mục). Bộ máy này hợp thành hội đồng (lấy tên là Hội đồng kỳ hào) ra sức kìm kẹp, trấn áp nhân dân.

      Ngoài ra, để tăng cường khả năng kiểm soát và cai trị nhân dân, bọn chúng còn thành lập hệ thống tay sai bao gồm các tên mật thám, phòng nhì, chỉ điểm...đồng thời xây dựng hệ thống điếm canh để tuần tra, canh gác. Khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ ở nước ta bộ máy thống trị này trở thành là tay sai đắc lực phục vụ cho chính sách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp. Ngoài ra, bọn địa chủ địa phương khi được đưa vào Hội đồng kỳ hào ở xã cũng tìm mọi cách dùng thế lực chính quyền để bóc lột và duy trì quyền lợi của chúng. Đây có thể ví như chế độ chuyên quyền ban hành hồi đầu triều Nguyễn, cứ 3 năm cấp đổi đất một lần; nhưng ở đây, bọn chúng đã kéo dài đến 6, 7 năm để duy trì quyền lợi và chiếm đoạt ruộng đất về tay mình.

     Trải qua thời kỳ phong kiến rồi thực dân phong kiến, nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Bình Phú nói riêng bị áp bức, bóc lột nặng nề.

     Phần lớn đất sản xuất tập trung trong tay bọn thống trị, đa số nông dân không có đất sản xuất phải đi làm thuê cho bọn địa chủ và bị bóc lột sức lao động đến mức kiệt quệ. Bên cạnh đó, bọn thống trị đã đặt ra nhiều thứ thuế vô lý để vơ vét, bóc lột nhân dân như thuế đinh, thuế điền thổ, thuế chợ, thuế đò...Chính sách thuế khóa mỗi năm một tăng làm cho đời sống của nhân dân càng thêm khốn khổ.[1]

     Ngoài thuế khóa, nhân dân trong xã còn thường xuyên bị bắt đi sưu, tạp dịch (làm đường, cầu cống, đình đài, miếu mộ..).

     Về giáo dục, suốt cả thời kỳ này, Bình Phú chỉ có một trường tiểu học nên chỉ có con em địa chủ mới có điều kiện đi học. Còn con em nông dân muốn học bậc tiểu học phải xuống Hà Lam, học cao hơn nữa thì phải ra tận Huế. Vì không có điều kiện học hành nên thời bây giờ, ở đây có đến trên 90% dân số mù chữ.

     Đến năm 2005, toàn xã có 1 trường mẫu giáo, 1 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở, và hơn 1.000 học sinh các cấp.

     Về y tế, Bình Phú không có cơ sở y tế nào để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Khi đau ốm, bệnh tật, nhân dân chỉ còn biết trông cậy vào các phương pháp chữa trị cổ truyền như dùng thuốc nam, vật lý trị liệu. Có khi chỉ biết tin cậy vào khả năng chữa trị của thầy lang, thầy phù thủy trong vùng bằng phương pháp cúng bái mang nặng tính chất hoang đường, phù phiếm.

     Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1964 huyện xây nhà thương tại Bình Phú và năm 1965 tỉnh xây dựng bệnh viện tại Đức An nên việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được đảm bảo hơn. Ngay sau giải phóng, trạm y tế xã được củng cố và đi vào hoạt động.

     Nghèo đói, bệnh tật và nạn mù chữ là nguyên nhân gây nên tệ nạn mê tín dị đoan, sùng bái thánh thần.

     Về tôn giáo, bên cạnh chùa chiền của Phật giáo, thực dân Pháp cho xây dựng một nhà thờ Thiên Chúa giáo ở An Trường (Cồn Đạo). Ngoài ra, đạo Cao Đài ở xã cũng xuất hiện sớm và phát triển khá mạnh.

     2. Truyền thống đấu tranh yêu nước trước năm 1930
     Trong quá trình khai phá, thành lập làng xã, trải qua quá trình đấu tranh chống chọi với thiên tai, đấu tranh chống kẻ thù xâm lược đã tạo cho con người nơi đây có được những phẩm chất cao đẹp: Cần cù, siêng năng, anh dũng, đoàn kết, sẵn sàng đứng lên đấu tranh giành lại cuộc sống yên bình cho quê hương, đất nước.

     Dưới thời thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa tầng lớp nhân dân với bọn thống trị và tay sai hết sức gay gắt. Đó là nguyên nhân làm cho nhân dân Bình Phú sẵn sàng tham gia vào các phong trào yêu nước chống thực dân phong kiến ngay từ những ngày đầu.

     a. Nhân dân Bình Phú với phong trào Nghĩa hội Quảng Nam
     Tháng 9 năm 1885, khi phong trào Cần Vương đang lan rộng ra cả nước, tại Thăng Bình Nghĩa hội Quảng Nam được thành lập làm dấy lên không khí sôi sục của những ngày chuẩn bị đứng lên đấu tranh chống lại thực dân Pháp xâm lược. Người lãnh đạo của Nghĩa hội Quảng Nam lúc này là Tiểu La (thường gọi là Tiểu La - Nguyễn Thành) quê làng Thạnh Mỹ, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình. Khi Nghĩa hội vừa mới được thành lập, tại địa bàn các xã Bình Quý, Bình Phú, Hà Lam và các vùng lân cận, Nguyễn Thành đã triệu tập được 800 nghĩa quân để nhập với cánh quân của Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến kéo về bao vây đánh chiếm tỉnh thành Quảng Nam ở La Qua (Điện Bàn). Sau đó, Nguyễn Thành đã cho xây dựng nhiều căn cứ ở các vùng lân cận để đánh Pháp lâu dài như các căn cứ Đá Rồng, Suối Đá (Phú Ninh), Truông Mua (Tiên Phước)...

     Sau khi Nghĩa hội thất bại, cụ Tiểu La đã về quê sống ẩn dật, lập ra Nam Thịnh sơn trang. Tuy nhiên, tiếng tăm của cụ cùng với những thắng lợi của nghĩa quân trong những ngày đầu của Nghĩa hội trên địa bàn Thăng Bình vẫn còn vang dội khắp nơi, trong đó có quê hương Bình Phú, chờ có cơ hội để bùng lên thành ngọn lửa đấu tranh.

     Từ năm 1904 đến 1908, Tiểu La - Nguyễn Thành cùng Phan Bội Châu tham gia sáng lập Duy Tân hội và tích cực hoạt động trong phong trào Đông Du. Ông đã chọn quê hương Bình Quý làm nơi hội họp của Duy Tân hội và là trung tâm của cuộc vận động Duy Tân. Trong thời gian này, tại đây đã diễn ra các cuộc quyên góp kinh tài cho phong trào Duy Tân, diễn ra các hoạt động sôi nổi hưởng ứng cuộc vận động đổi mới như cắt tóc ngắn, mở hội buôn, chống mê tín dị đoan, bài trừ hủ tục, tệ nạn phong kiến... Điều đó đã có ảnh hưởng tích cực đến các địa bàn lân cận, trong đó có Bình Phú.

     b. Tham gia phong trào Duy Tân
     Đầu năm 1908, ở Quảng Nam nổ ra phong trào xin xâu, chống thuế. Do đã có hoạt động làm tiền đề trong phong trào Duy Tân, dưới sự lãnh đạo của Tiểu La - Nguyễn Thành, Thăng Bình trở thành một trong những địa phương hưởng ứng mạnh mẽ phong trào chống thuế của khu vực Trung kỳ. Sáng ngày 26 - 03 - 1908, nhân dân Bình Phú cùng các xã lân cận tổ chức thành lập đoàn biểu tình kéo về bao vây Phủ lỵ, bắt tên tri phủ lúc bấy giờ là Lê Bá Đằng. Mặc dù bọn lính tập trung ở Phủ nổ súng vào đoàn người biểu tình, bắt bớ và bắn bị thương một số người nhưng nhân dân vẫn xông lên đòi yêu sách. Trước sức mạnh đàn áp của địch, một bộ phận người biểu tình đã giải tán nhưng còn một số khác vẫn bí mật tổ chức thành những nhóm nhỏ gia nhập vào đoàn biểu tình của nhân dân các huyện khác, kéo nhau về La Qua (Điện Bàn), rồi xuống tòa công sứ Hội An tiếp tục đấu tranh.

     Sau sự kiện này, Tiểu La đã bị bắt và đày ra Côn Đảo. Tiếp đó, năm 1916 cuộc khởi nghĩa Duy Tân do các sĩ phu yêu nước Quảng Nam là Thái Phiên, Trần Cao Vân lãnh đạo đã nổ ra nhưng rồi thất bại. Phong trào đấu tranh trong toàn tỉnh tạm thời lắng xuống.[2]

     Đến năm 1925 - 1926, các sự kiện đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, đám tang cụ Phan Châu Trinh đã thổi vào phong trào chung của cả tỉnh một luồng sinh khí mới, tạo tiền đề cho việc tiếp nhận luồng ánh sáng tư tưởng của giai cấp vô sản thông qua hoạt động của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.



[1] Năm 1928, chính quyền thực dân phong kiến đã tăng thuế đinh từ 2,20 đồng lên 2,80 đồng. Đến năm 1929 lại tăng lên 3,60 đồng (tính ra gần bằng 150kg lúa lúc bấy giờ). Năm 1925, thuế điền thổ tăng từ 8% lên đến 25%.

[2] Trong cuộc khởi nghĩa này, có ông Trương Huy và Trương Hoành, người Đức An, Bình Phú.

Text/HTML


THÔNG BÁO

CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ


Liên kết web